Từ  01/4/2026, Nghị định 59/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực, bổ sung nhiều quy định mới liên quan đến trục xuất, tạm giữ, áp giải và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật tại Việt Nam.

1. Bổ sung quy định thực hiện thủ tục trên môi trường điện tử

Khoản 3 Điều 3 Nghị định 59/2026/NĐ-CP quy định rõ: “Việc thực hiện các thủ tục về trục xuất, tạm giữ, áp giải và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật được thực hiện trên môi trường điện tử theo quy định của pháp luật” .

Quy định này cho phép các cơ quan có thẩm quyền thực hiện toàn bộ hoặc một phần quy trình xử lý trên hệ thống điện tử, bao gồm lập hồ sơ, trao đổi thông tin và ban hành quyết định.

Trong khi đó, Nghị định 142/2021/NĐ-CP hoàn toàn chưa đề cập đến nội dung này, dẫn đến việc xử lý chủ yếu dựa trên hồ sơ giấy, mất nhiều thời gian và khó đồng bộ dữ liệu. Việc bổ sung quy định mới là bước tiến quan trọng trong chuyển đổi số lĩnh vực quản lý xuất nhập cảnh.

2. Bổ sung nguyên tắc bảo đảm bình đẳng giới, quyền phụ nữ và trẻ em

Theo khoản 2 Điều 3 Nghị định 59/2026/NĐ-CP, việc áp dụng các biện pháp phải bảo đảm “bình đẳng giới; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ và trẻ em” .

Quy định này mở rộng nguyên tắc áp dụng, không chỉ dừng lại ở bảo vệ tính mạng, sức khỏe mà còn nhấn mạnh đến yếu tố giới và nhóm yếu thế.

Trong khi đó, Nghị định 142/2021/NĐ-CP chỉ quy định nguyên tắc chung như “bảo đảm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người bị áp dụng biện pháp” , chưa đề cập riêng đến phụ nữ và trẻ em. Việc bổ sung này giúp hoàn thiện khung pháp lý theo hướng nhân văn hơn.

3. Mở rộng quyền của người bị trục xuất

Điểm b và d khoản 1 Điều 7 Nghị định 59/2026/NĐ-CP bổ sung các quyền quan trọng như: “được liên hệ với cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước mà người đó mang quốc tịch” và “được đề nghị xem xét lại quyết định trục xuất” .

Tại Nghị định 142/2021/NĐ-CP chỉ ghi nhận các quyền cơ bản như khiếu nại, tố cáo , chưa cho phép tiếp cận trực tiếp với cơ quan lãnh sự hoặc yêu cầu xem xét lại quyết định. Quy định mới vì vậy đã mở rộng đáng kể quyền của người bị áp dụng biện pháp.

4. Làm rõ trình tự lập hồ sơ đề nghị trục xuất

Khoản 1 Điều 8 Nghị định 59/2026/NĐ-CP quy định cụ thể trình tự: cơ quan phát hiện vi phạm phải lập biên bản, hoàn thiện hồ sơ và gửi đến cơ quan có thẩm quyền để xem xét, quyết định trục xuất .

Nghị định 142/2021/NĐ-CP chỉ quy định về thời hạn xử lý hồ sơ mà chưa mô tả đầy đủ các bước thực hiện.

5. Quy định cụ thể thẩm quyền ra quyết định trục xuất

Khoản 1 Điều 9 Nghị định 59/2026/NĐ-CP xác định rõ các chủ thể có thẩm quyền, gồm Trưởng phòng Quản lý xuất nhập cảnh, Giám đốc Công an cấp tỉnh và Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh .

Nghị định 142/2021/NĐ-CP không liệt kê cụ thể mà dẫn chiếu chung theo Luật Xử lý vi phạm hành chính, gây khó khăn khi áp dụng trên thực tế.

6. Bổ sung trường hợp thi hành ngay quyết định trục xuất

Khoản 4 Điều 10 Nghị định 59/2026/NĐ-CP quy định: “Trường hợp người vi phạm không có khả năng nộp phạt thì được thi hành ngay quyết định trục xuất” và chấm dứt việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt tiền .

Trong khi đó, Nghị định 142/2021/NĐ-CP không có quy định tương tự, dẫn đến việc xử lý còn phụ thuộc nhiều vào việc thi hành nghĩa vụ tài chính.

7. Mở rộng các trường hợp được hoãn trục xuất

Khoản 1 Điều 11 Nghị định 59/2026/NĐ-CP bổ sung thêm các trường hợp như: “đang là bị can, bị cáo hoặc đương sự trong vụ án; do thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh; nước tiếp nhận chưa đồng ý” .

Trong khi đó, Nghị định 142/2021/NĐ-CP chỉ quy định 02 trường hợp là bệnh nặng hoặc đang thực hiện nghĩa vụ dân sự, hành chính .

Như vậy, phạm vi được hoãn đã được mở rộng đáng kể, phản ánh đúng các tình huống thực tế phát sinh.

8. Quy định rõ thẩm quyền áp dụng biện pháp quản lý

Khoản 1 Điều 13 Nghị định 59/2026/NĐ-CP quy định người có thẩm quyền ra quyết định trục xuất đồng thời quyết định áp dụng biện pháp quản lý .

Trong khi đó, Nghị định 142/2021/NĐ-CP quy định theo cơ chế đề xuất và phê duyệt nhiều cấp, gây kéo dài thời gian xử lý.

9. Bổ sung quy định về hồ sơ gửi cơ sở lưu trú

Khoản 7 Điều 13 Nghị định 59/2026/NĐ-CP yêu cầu gửi kèm: “quyết định áp dụng biện pháp quản lý và tài liệu tóm tắt về nhân thân, hành vi vi phạm” khi chỉ định nơi ở .

Như vậy, Nghị định 59/2026/NĐ-CP quy định khi chỉ định nơi lưu trú, cơ quan có thẩm quyền phải gửi kèm quyết định áp dụng biện pháp quản lý và tài liệu tóm tắt về nhân thân, hành vi vi phạm của người bị trục xuất.

Nghị định 142/2021/NĐ-CP chưa có quy định cụ thể về nội dung hồ sơ này.

10. Bổ sung quyền tiếp cận luật sư, trợ giúp pháp lý

Theo điểm d khoản 1 Điều 27 Nghị định 59/2026/NĐ-CP, người bị tạm giữ được quyền liên hệ với luật sư hoặc tổ chức trợ giúp pháp lý.

Trong khi đó, Nghị định 142/2021/NĐ-CP không ghi nhận quyền này. Quy định mới góp phần bảo đảm quyền được bảo vệ pháp lý của người nước ngoài trong quá trình bị áp dụng biện pháp cưỡng chế.

11. Nâng mức tiêu chuẩn ăn uống đối với người bị tạm giữ

Khoản 1 Điều 28 Nghị định 59/2026/NĐ-CP nâng tiêu chuẩn ăn uống: định lượng thịt tăng lên 0,2 kg/người/ngày và nước uống là 2 lít/người/ngày.

Theo quy định cũ tại Nghị định 142/2021/NĐ-CP, mức này lần lượt là 0,1 kg thịt và 1 lít nước/ngày. Như vậy, tiêu chuẩn sinh hoạt đã được nâng lên gấp đôi, bảo đảm điều kiện tối thiểu tốt hơn cho người bị tạm giữ.

12. Bổ sung quy định tách riêng người chưa thành niên

Khoản 3 Điều 23 Nghị định 59/2026/NĐ-CP quy định người chưa thành niên phải được bố trí tạm giữ riêng, tách biệt với người trưởng thành.

Trước đây, Nghị định 142/2021/NĐ-CP không có quy định này. Việc bổ sung thể hiện rõ yêu cầu bảo vệ nhóm yếu thế, đặc biệt là người chưa thành niên trong quá trình áp dụng biện pháp hành chính.

Trên đây là thông tin mà Mys Law cung cấp. Mọi thắc mắc liên quan đến nội dung bài viết xin vui lòng liên hệ 0969.361.319 hoặc email: [email protected] để được giải đáp.