Thời gian gần đây, tình trạng rao bán tiền giả diễn ra ngày càng công khai trên các trang mạng xã hội. Hành vi này bị pháp luật nghiêm cấm vì tiềm ẩn nhiều nguy cơ ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự kinh tế – xã hội. Vậy, người thực hiện hành vi làm tiền giả sẽ bị xử phạt như thế nào theo quy định pháp luật hiện hành?

1. Tiền giả là gì?

Theo khoản 1 Điều 17 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan duy nhất có thẩm quyền phát hành tiền giấy và tiền kim loại của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ngân hàng Nhà nước thực hiện phát hành tiền vào lưu thông và thu tiền từ lưu thông thông qua các hoạt động thu, chi tiền mặt cùng các nghiệp vụ khác.

Do đó, tiền giả được hiểu là loại tiền được làm ra giống với tiền thật nhưng không phải do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam in, đúc hoặc phát hành. Đồng thời, Điều 23 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010 cũng quy định rõ: các hành vi làm tiền giả; vận chuyển, tàng trữ, lưu thông tiền giả đều bị pháp luật nghiêm cấm.

2. Làm tiền giả bị phạt như thế nào?

Làm tiền giả là hành vi mà các đối tượng không có thẩm quyền thực hiện in, vẽ, photo hoặc sử dụng bất kỳ hình thức nào khác để tạo ra tờ tiền giống như tiền thật, nhằm đưa vào lưu thông hoặc sử dụng trong mua bán.

Đây là một trong những hành vi bị pháp luật nghiêm cấm. Người thực hiện có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Cụ thể, mức xử phạt được quy định chi tiết như sau:

  1. Người nào làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.
  2. Phạm tội trong trường hợp tiền giả có trị giá tương ứng từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.
  3. Phạm tội trong trường hợp tiền giả có trị giá tương ứng từ 50.000.000 đồng trở lên thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.
  4. Người chuẩn bị phạm tội này thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm.
  5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

3. Che giấu, không tố giác người làm tiền giả bị xử lý thế nào?

Không chỉ người trực tiếp làm tiền giả bị xử lý, mà những người có hành vi bao che hoặc không tố giác cũng phải chịu trách nhiệm pháp lý.

Theo Điều 389 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), người nào không hứa hẹn trước mà che giấu hành vi làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm.

Nếu phạm tội trong trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn để cản trở việc phát hiện tội phạm hoặc có những hành vi khác bao che người phạm tội thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

Ngoài ra, theo Điều 390 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), trường hợp biết rõ tội phạm làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả đang được chuẩn bị, đang hoặc đã được thực hiện mà không tố giác thì người này có thể bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Tuy nhiên, nếu người không tố giác đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt.

Trên đây là thông tin mà Mys Law cung cấp. Mọi thắc mắc liên quan đến nội dung bài viết xin vui lòng liên hệ 0969.361.319 hoặc email: [email protected] để được giải đáp.

Trân trọng!

Người biên tập: Nguyễn Thị Trà My