Cục Quản lý đất đai có Công văn 1790 về cấp sổ đỏ cho đất có nguồn gốc nông lâm trường (Công văn 1790/QLĐĐ-ĐĐĐKĐĐ).

Công văn 1790 về cấp sổ đỏ cho đất có nguồn gốc nông lâm trường

Cục Quản lý đất đai nhận được phản ánh của Ông Trần Văn C tại hệ thống tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến Luật Đất đai năm 2024, với các nội dung như sau:

“Bản thân tôi đã có phản ánh gửi đến quý Bộ (Mã phản ánh: 1769336564647) và đã được trả lời.

Tuy nhiên, nội dung trả lời chưa giải đáp, tháo gỡ được những bất cập, vướng mắc về nội dung “Luận chứng kinh tế kỹ thuật Xí nghiệp liên hiệp cà phê Việt Đức (theo Quyết định số 118/NN-KH/QH ngày 11/5/1993 của Bộ Nông Nghiệp và Công Nghiệp thực phẩm về việc phê duyệt Luận chứng kinh tế kỹ thuật Xí nghiệp Liên Hiệp cà phê Việt Đức) có phải là căn cử, tài liệu để xác định đất có nguồn gốc từ nông lâm trường không?”

Vì UBND xã chỉ căn cứ vào Luận chứng nêu trên để xác nhận đất của gia đình có nguồn gốc từ nông, lâm trường quản lý mà bỏ qua các yếu tố khác (như: thực tiễn khai hoang, sử dụng đất ổn định của gia đình tôi; Xí nghiệp, Công ty không được UBND tỉnh giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất của gia đình tôi; Xí nghiệp, Công ty không có hợp đồng giao nhận khoán, hợp đồng liên kết hoặc các giấy tờ, tài liệu nào khác thể hiện việc gia đình tôi nhận khoán, liên kết với Xí nghiệp, Công ty).

Qua nghiên cứu, Luật đất đai 1987 quy định:

+ Điều 12, Luật số 03 về Luật Đất đai của Quốc hội số 03 ngày 29/12/1987 có nêu: “Việc quyết định giao đất phải tuân theo những quy định sau đây:

3- Căn cứ vào yêu cầu sử dụng đất đai ghi trong luận chứng kinh tế -kỹ thuật và trong thiết kế đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt quy định tại Điều 13 của Luật này” + Điều 13, Luật số 03 về Luật Đất đai của Quốc hội số 03 ngày 29/12/1987 có nêu: “…3- Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và đơn vị hành chính tương đương quyết định: a) Giao đất cho các tổ chức kinh tế quốc doanh để sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp” Từ điều 12, 13 Luật số 03 về Luật Đất đai của Quốc hội số 03 ngày 29/12/1987 nhận thấy: Thẩm quyền giao đất đối với các tổ chức kinh tế quốc doanh thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và đơn vị hành chính tương đương. Do đó, Bộ trưởng Bộ Nông Nghiệp và Công Nghiệp thực phẩm không có thẩm quyền giao đất cho Xí nghiệp Liên Hiệp cà phê Việt Đức và Luận chứng kinh tế kỹ thuật chỉ là một căn cứ để các cấp có thẩm quyền quyết định giao đất, chứ không phải là quyết định giao đất.

Vì vậy, bản thân tôi mong muốn Quý Bộ có văn bản trả lời, hướng dẫn:

Nội dung 01: Trường hợp thửa đất của gia đình tôi thỏa mãn, đáp ứng đúng, đầy đủ các quy định để được cấp Giấy chứng nhận theo Điều 138, Luật Đất đai 2024 thì UBND xã căn cứ “Luận chứng kinh tế kỹ thuật Xí nghiệp liên hiệp cà phê Việt Đức (theo Quyết định số 118/NN-KH/QH ngày 11/5/1993 của Bộ Nông Nghiệp và Công Nghiệp thực phẩm về việc phê duyệt Luận chứng kinh tế kỹ thuật Xí nghiệp Liên Hiệp cà phê Việt Đức) xác nhận thửa đất của gia đình tôi có nguồn gốc từ nông lâm trường có đúng hay không?

Nội dung 02: Trường hợp Quý Bộ công nhận nội dung “Luận chứng kinh tế kỹ thuật Xí nghiệp liên hiệp cà phê Việt Đức (theo Quyết định số 118/NN-KH/QH ngày 11/5/1993 của Bộ Nông Nghiệp và Công Nghiệp thực phẩm về việc phê duyệt Luận chứng kinh tế kỹ thuật Xí nghiệp Liên Hiệp cà phê Việt Đức) là căn cứ, tài liệu xác định đất có nguồn gốc là nông, lâm trường” thì việc cấp GCN cho gia đình tôi có phải căn cứ Phương án sử dụng đất theo Điều 26, Nghị định 101/NĐ-CP hay không?

Nội dung 03: Vì thửa đất của gia đình tôi không nằm trong bất kỳ Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất của các nông lâm trường bàn giao về địa phương quản lý nên chính quyền cấp xã, tỉnh còn khó khăn, vướng mắc trong việc lập phương án sử dụng đất. Do đó, trường hợp phải căn cứ Phương án sử dụng đất mới được cấp GCN thì cơ quan, đơn vị nào được giao quyền lập Phương án sử dụng đất đối với thửa đất của gia đình tôi để gia đình tôi được cấp GCN theo? Được quy định tại điều nào của Luật Đất đai 2024 và các Nghị định hướng dẫn thi hành?”.

Cục Quản lý đất đai có ý kiến như sau:

Liên quan đến nội dung phản ánh, kiến nghị của Ông Trần Văn C, ngày 13/3/2026 Cục Quản lý đất đai đã có Công văn 657/QLĐĐ-ĐĐĐKĐĐ để giải đáp.

Theo đó, trường hợp thửa đất được nêu trong phản ánh thuộc đất nông lâm trường theo nội dung tại “Luận chứng kinh tế kỹ thuật Xí nghiệp liên hiệp cà phê Việt Đức (theo Quyết định 118/NN-KH/QH ngày 11/5/1993 của Bộ Nông Nghiệp và Công Nghiệp thực phẩm về việc phê duyệt Luận chứng kinh tế kỹ thuật Xí nghiệp Liên Hiệp cà phê Việt Đức) nhưng tới nay Xí nghiệp liên hiệp cà phê Việt Đức đã giải thể không còn hoạt động thì Ông được xem xét, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định tại khoản 5 Điều 26 Nghị định 101/2024/NĐ-CP, được bổ sung tại khoản 4 Điều 3 Nghị định 226/2025/NĐ-CP mà không phải lập phương án sử dụng đất.

Trường hợp xác định không thuộc đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường thì thực hiện việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định tại Điều 138 Luật Đất đai.

Như vậy, trong mọi trường hợp việc xem xét, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho gia đình Ông đã có căn cứ để giải quyết. Cục Quản lý đất đai đề nghị Ông nghiên cứu các quy định nêu trên và liên hệ với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất để xác định rõ nguồn gốc đất đai làm cơ sở áp dụng chính sách giải quyết việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.

Trên đây là nội dung Công văn 1790 về cấp sổ đỏ cho đất có nguồn gốc nông lâm trường.

Quy định cấp sổ đỏ cho đất không có giấy tờ theo Điều 138 Luật Đất đai

Theo Điều 138 Luật Đất đai, việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà không có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 137 của Luật này, không thuộc trường hợp quy định tại Điều 139 và Điều 140 của Luật này được thực hiện theo quy định như sau:

1. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất trước ngày 18 tháng 12 năm 1980, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất như sau:

a) Đối với thửa đất có nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống nếu diện tích thửa đất bằng hoặc lớn hơn hạn mức công nhận đất ở theo quy định tại khoản 5 Điều 141 của Luật này thì diện tích đất ở được công nhận bằng hạn mức công nhận đất ở và không phải nộp tiền sử dụng đất.

Trường hợp diện tích đất đã xây dựng nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống lớn hơn hạn mức công nhận đất ở quy định tại điểm này thì diện tích đất ở được công nhận theo diện tích thực tế đã xây dựng nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống đó; người sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất đối với diện tích vượt hạn mức công nhận đất ở tại điểm này;

b) Đối với thửa đất có nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống nếu diện tích thửa đất nhỏ hơn hạn mức công nhận đất ở quy định tại khoản 5 Điều 141 của Luật này thì diện tích đất ở được xác định là toàn bộ diện tích thửa đất đó và không phải nộp tiền sử dụng đất;

c) Đối với thửa đất có sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, thương mại, dịch vụ thì công nhận đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp, đất thương mại, dịch vụ theo diện tích thực tế đã sử dụng; hình thức sử dụng đất được công nhận như hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất là ổn định lâu dài;

d) Đối với phần diện tích đất còn lại sau khi đã được xác định theo quy định tại điểm a và điểm c khoản này thì được xác định theo hiện trạng sử dụng đất.

Trường hợp hiện trạng sử dụng là đất phi nông nghiệp không phải là đất ở thì được công nhận theo quy định tại điểm c khoản này.

Trường hợp hiện trạng sử dụng là đất nông nghiệp thì được công nhận theo hình thức Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất; nếu người sử dụng đất có nhu cầu công nhận vào mục đích đất phi nông nghiệp mà phù hợp với quy hoạch sử dụng đất cấp huyện hoặc quy hoạch chung hoặc quy hoạch phân khu hoặc quy hoạch xây dựng hoặc quy hoạch nông thôn thì được công nhận vào mục đích đó và phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật;

2. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất từ ngày 18 tháng 12 năm 1980 đến trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất như sau:

a) Đối với thửa đất có nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống nếu diện tích thửa đất bằng hoặc lớn hơn hạn mức công nhận đất ở quy định tại khoản 5 Điều 141 của Luật này thì diện tích đất ở được công nhận bằng hạn mức công nhận đất ở và không phải nộp tiền sử dụng đất.

Trường hợp diện tích đất đã xây dựng nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống lớn hơn hạn mức công nhận đất ở quy định tại điểm này thì diện tích đất ở được công nhận theo diện tích thực tế đã xây dựng nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống đó; người sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất đối với diện tích vượt hạn mức công nhận đất ở tại điểm này;

b) Đối với thửa đất có nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống nếu diện tích thửa đất nhỏ hơn hạn mức công nhận đất ở quy định tại khoản 5 Điều 141 của Luật này thì diện tích đất ở được xác định là toàn bộ diện tích thửa đất đó và không phải nộp tiền sử dụng đất;

c) Đối với thửa đất có sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, thương mại, dịch vụ thì công nhận đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp, đất thương mại, dịch vụ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều này;

d) Đối với phần diện tích đất còn lại sau khi đã được xác định theo quy định tại điểm a và điểm c khoản này thì được xác định theo hiện trạng sử dụng đất.

Trường hợp hiện trạng sử dụng là đất phi nông nghiệp không phải là đất ở thì được công nhận theo quy định tại điểm c khoản này.

Trường hợp hiện trạng sử dụng là đất nông nghiệp thì được công nhận theo hình thức Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất; nếu người sử dụng đất có nhu cầu công nhận vào mục đích đất phi nông nghiệp mà phù hợp với quy hoạch sử dụng đất cấp huyện hoặc quy hoạch chung hoặc quy hoạch phân khu hoặc quy hoạch xây dựng hoặc quy hoạch nông thôn thì được công nhận vào mục đích đó và phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật;

3. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2014, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất như sau:

a) Đối với thửa đất có nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống nếu diện tích thửa đất bằng hoặc lớn hơn hạn mức giao đất ở quy định tại khoản 2 Điều 195 và khoản 2 Điều 196 của Luật này thì diện tích đất ở được công nhận bằng hạn mức giao đất ở; trường hợp diện tích đất đã xây dựng nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống lớn hơn hạn mức giao đất ở thì công nhận diện tích đất ở theo diện tích thực tế đã xây dựng nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống đó;

b) Đối với thửa đất có nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống nếu diện tích thửa đất nhỏ hơn hạn mức giao đất ở quy định tại khoản 2 Điều 195 và khoản 2 Điều 196 của Luật này thì toàn bộ diện tích thửa đất được công nhận là đất ở;

c) Đối với thửa đất có sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, thương mại, dịch vụ thì công nhận đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp, đất thương mại, dịch vụ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều này;

d) Đối với phần diện tích đất còn lại sau khi đã được xác định theo quy định tại điểm a và điểm c khoản này thì được xác định theo hiện trạng sử dụng đất.

Trường hợp hiện trạng sử dụng là đất phi nông nghiệp không phải là đất ở thì được công nhận theo quy định tại điểm c khoản này.

Trường hợp hiện trạng sử dụng là đất nông nghiệp thì được công nhận theo hình thức Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất; nếu người sử dụng đất có nhu cầu công nhận vào mục đích đất phi nông nghiệp mà phù hợp với quy hoạch sử dụng đất cấp huyện hoặc quy hoạch chung hoặc quy hoạch phân khu hoặc quy hoạch xây dựng hoặc quy hoạch nông thôn thì được công nhận vào mục đích đó và phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật;

đ) Người sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất quy định tại khoản này thì phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật;

4. Trường hợp thửa đất có nhiều hộ gia đình, cá nhân sử dụng chung thì hạn mức đất ở quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này được tính bằng tổng hạn mức đất ở của các hộ gia đình, cá nhân đó.

Trường hợp một hộ gia đình, cá nhân sử dụng nhiều thửa đất có nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời sống được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận đã sử dụng đất ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 thì hạn mức đất ở được xác định theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này đối với từng thửa đất đó;

5. Hộ gia đình, cá nhân thuộc đối tượng được giao đất nông nghiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 118 của Luật này đã sử dụng đất ở, đất phi nông nghiệp trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 mà không có các giấy tờ quy định tại Điều 137 của Luật này, có đăng ký thường trú tại địa phương thuộc vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất. Diện tích đất được xác định khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất thực hiện theo quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này;

6. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định vào mục đích thuộc nhóm đất nông nghiệp, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo hình thức Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất đối với diện tích đất đang sử dụng nhưng không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp cho cá nhân quy định tại Điều 176 của Luật này; thời hạn sử dụng đất tính từ ngày được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất; diện tích đất nông nghiệp còn lại (nếu có) phải chuyển sang thuê đất của Nhà nước;

7. Việc áp dụng quy định về hạn mức đất ở của địa phương để xác định diện tích đất ở trong các trường hợp quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều này được thực hiện theo quy định của pháp luật tại thời điểm người sử dụng đất nộp hồ sơ để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất;

8. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trong các trường hợp quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 6 Điều này mà không đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất thì được tạm thời sử dụng đất theo hiện trạng cho đến khi Nhà nước thu hồi đất và phải kê khai đăng ký đất đai theo quy định;

9. Nhà nước có trách nhiệm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho các trường hợp đã đăng ký và đủ điều kiện theo quy định tại Điều này;

10. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Trên đây là thông tin mà Mys Law cung cấp. Mọi thắc mắc liên quan đến nội dung bài viết xin vui lòng liên hệ 0969.361.319 hoặc email: [email protected] để được giải đáp.

Trân trọng!

Người biên tập: Võ Thị Hồng Duyên