Về nguyên tắc, mọi giao dịch dân sự được pháp luật công nhận khi sự giao kết được thực hiện trên cơ sở trung thực, tự nguyện và đồng thuận của các bên tham gia thiết lập giao dịch. Do đó, hậu quả vô hiệu đối với giao dịch dân sự được thiết lập do giả tạo là điều đương nhiên. Hãy cùng Mys Law tìm hiểu thông qua bài viết dưới đây.

 

Căn cứ pháp lý:

– Bộ luật Dân sự 2015.

1. Phân biệt hủy bỏ hợp đồng và hợp đồng vô hiệu?

Dưới đây là tiêu chí phân biệt hủy bỏ hợp đồng và hợp đồng vô hiệu:

Tiêu chí phân biệt Hủy bỏ hợp đồng Hợp đồng vô hiệu
Điều kiện – Vi phạm điều kiện hủy bỏ mà các bên đã thỏa thuận;

– Vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng;

– Trường hợp khác do pháp luật quy định.

(Căn cứ theo quy định tại Điều 423 Bộ luật Dân sự 2015)

Hợp đồng (là một trong những hình thức của giao dịch dân sự) không có một trong các điều kiện có hiệu lực sau đây thì bị vô hiệu:

– Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với hợp đồng được xác lập.

– Chủ thể tham gia hợp đồng hoàn toàn tự nguyện.

– Mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

– Hình thức của hợp đồng tuân thủ theo quy định của luật (trong trường hợp luật có quy định).

(Căn cứ theo quy định tại Điều 122 Bộ luật Dân sự 2015)

Trường hợp áp dụng cụ thể Hủy bỏ hợp đồng trong các trường hợp cụ thể sau:

– Hủy bỏ hợp đồng do chậm thực hiện nghĩa vụ.

– Hủy bỏ hợp đồng do không có khả năng thực hiện.

– Hủy bỏ hợp đồng trong trường hợp tài sản bị mất, bị hư hỏng.

Hợp đồng bị vô hiệu trong các trường hợp cụ thể sau:

– Hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội.

– Hợp đồng giả tạo.

– Hợp đồng vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện.

– Hợp đồng vô hiệu do bị nhầm lẫn, bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép.

– Hợp đồng vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình.

– Hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức.

– Hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được.

(Căn cứ khoản 1 Điều 407, Điều 408 Bộ luật Dân sự 2015)

Tính hiệu lực của hợp đồng Hợp đồng có hiệu lực tại thời điểm giao kết nhưng vì phát sinh yếu tố dẫn đến hủy hợp đồng nên hiệu lực này không được công nhận. Hợp đồng vô hiệu là do vi phạm một trong các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, tức là từ ban đầu, hợp đồng đã không có hiệu lực pháp luật, chưa bao giờ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên.
Hậu quả pháp lý – Hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, các bên không phải thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận, trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết tranh chấp.

– Các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận sau khi trừ chi phí hợp lý trong thực hiện hợp đồng và chi phí bảo quản, phát triển tài sản.

– Bên bị thiệt hại do hành vi vi phạm nghĩa vụ của bên kia được bồi thường.

– Trường hợp việc hủy bỏ hợp đồng không có căn cứ theo quy định thì bên hủy bỏ hợp đồng được xác định là bên vi phạm nghĩa vụ và phải thực hiện trách nhiệm dân sự do không thực hiện đúng nghĩa vụ theo quy định.

(Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 427 Bộ luật Dân sự 2015)

– Hợp đồng vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.

– Khi hợp đồng vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

– Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.

– Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.

(Căn cứ tại Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015)

Trách nhiệm thông báo Bên hủy bỏ hợp đồng có trách nhiệm phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc hủy bỏ, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

(Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 423 Bộ luật Dân sự 2015)

Không phát sinh trách nhiệm thông báo đối với các bên tham gia hợp đồng bị vô hiệu.
Thời hiệu yêu cầu Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án tuyên hủy bỏ hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.

(Căn cứ theo quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015)

Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu là 02 năm, trừ trường hợp hợp đồng vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội và hợp đồng giả tạo thì không bị hạn chế về thời hiệu yêu cầu.

 

(Căn cứ theo quy định tại Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015)

 

2. Trường hợp nào giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo?

Căn cứ theo quy định tại Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015 quy định như sau:

“Điều 124. Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo

1. Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan.

2. Trường hợp xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch dân sự đó vô hiệu.”

Như vậy căn cứ theo quy định nêu trên thì các trường hợp giao dịch dân sự bị vô hiệu do giả tạo gồm có các trường hợp sau:

– Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan.

– Trường hợp xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch dân sự đó vô hiệu.

3. Có thể hủy bỏ hợp đồng trong trường hợp tài sản bị mất hay không?

Căn cứ theo quy định tại Điều 426 Bộ luật Dân sự 2015 quy định như sau:

“Điều 426. Hủy bỏ hợp đồng trong trường hợp tài sản bị mất, bị hư hỏng

Trường hợp một bên làm mất, làm hư hỏng tài sản là đối tượng của hợp đồng mà không thể hoàn trả, đền bù bằng tài sản khác hoặc không thể sửa chữa, thay thế bằng tài sản cùng loại thì bên kia có quyền hủy bỏ hợp đồng.

Bên vi phạm phải bồi thường bằng tiền ngang với giá trị của tài sản bị mất, bị hư hỏng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 351 và Điều 363 của Bộ luật này.”

Như vậy, căn cứ theo quy định nêu trên thì trường hợp một bên làm mất tài sản là đối tượng của hợp đồng mà không thể hoàn trả, đền bù bằng tài sản khác hoặc không thể sửa chữa, thay thế bằng tài sản cùng loại thì bên kia có quyền hủy bỏ hợp đồng.

Trên đây là thông tin mà Mys Law cung cấp. Mọi thắc mắc liên quan đến nội dung bài viết xin vui lòng liên hệ 1900866637 hoặc email: [email protected] để được giải đáp.

Trân trọng!