Khoản thưởng (tiền thưởng, thưởng hiệu suất, thưởng cuối năm…) là một trong những nguồn thu nhập phổ biến của người lao động. Nhiều cặp vợ chồng thường tranh cãi về việc khoản thưởng này thuộc về ai, có phải chia sẻ chung hay là của riêng từng người. Pháp luật Việt Nam quy định rõ ràng dựa trên thời điểm hình thành khoản thưởng và thỏa thuận giữa hai bên. Bài viết dưới đây phân tích chi tiết để giúp bạn hiểu và tránh tranh chấp không đáng có.

Phân loại tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng
Việc xác định thưởng là tài sản chung hay riêng cần dựa vào quy định tại Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 (số 52/2014/QH13, vẫn hiệu lực), cụ thể:
- Tài sản chung (Điều 33): Bao gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra; thu nhập do lao động, sản xuất, kinh doanh; hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng; thu nhập hợp pháp khác (trong đó có khoản thưởng, tiền trúng xổ số, tiền trợ cấp… trừ một số trường hợp đặc biệt); tài sản thừa kế/tặng cho chung; tài sản thỏa thuận là chung; quyền sử dụng đất sau hôn nhân (trừ ngoại lệ); và tài sản không chứng minh được là riêng.
Tài sản chung thuộc sở hữu hợp nhất, dùng để phục vụ nhu cầu gia đình và thực hiện nghĩa vụ chung. - Tài sản riêng (Điều 43): Bao gồm tài sản có trước hôn nhân; thừa kế/tặng cho riêng; chia riêng từ tài sản chung; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu cá nhân; tài sản hình thành từ tài sản riêng; quyền sở hữu trí tuệ; trợ cấp người có công; quyền tài sản gắn với nhân thân.
Tài sản riêng thuộc quyền định đoạt riêng, có thể nhập chung nếu thỏa thuận.
Thưởng thường được coi là tài sản chung của vợ chồng
Theo khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, khoản thưởng từ công việc trong thời kỳ hôn nhân là thu nhập hợp pháp khác từ lao động. Do đó, nếu không có thỏa thuận khác, thưởng là tài sản chung của vợ chồng.
Ví dụ: Nếu chồng/vợ nhận thưởng từ công ty dựa trên hiệu suất làm việc trong năm hôn nhân, khoản tiền này thuộc về cả hai, nên được dùng cho chi tiêu chung như nhu cầu gia đình, giáo dục con cái hoặc các mục đích chung khác. Tòa án thường giả định là chung trừ khi có chứng cứ ngược lại (khoản 3 Điều 33).
Các trường hợp thưởng là tài sản riêng
Dù thưởng thường là chung, vẫn có ngoại lệ theo Điều 43 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 và Nghị định 126/2014/NĐ-CP:
- Trường hợp 1: Thưởng hình thành trước khi kết hôn (ví dụ: thưởng dựa trên kết quả trước ngày đăng ký kết hôn). Cần chứng minh rõ qua hợp đồng lao động, giấy tờ.
- Trường hợp 2: Vợ chồng thỏa thuận thưởng là tài sản riêng (có thể lập văn bản thỏa thuận, công chứng nếu cần để đảm bảo tính pháp lý).
- Trường hợp 3: Khi phân chia tài sản chung (theo Điều 38-40 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014), hai bên thỏa thuận thưởng thuộc riêng từng người.
Trong các trường hợp này, thưởng trở thành tài sản riêng, bảo vệ quyền cá nhân.
Kiểm soát hoặc chiếm đoạt thưởng có phải bạo lực gia đình?
Việc kiểm soát khoản thưởng có thể liên quan đến bạo lực kinh tế. Theo khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2022 (số 13/2022/QH15), hành vi chiếm đoạt, hủy hoại tài sản chung hoặc tài sản riêng của thành viên gia đình là bạo lực gia đình.
Cụ thể:
- Nếu thưởng là tài sản chung: Một bên (ví dụ chồng) giấu, không đưa cho vợ nhằm kiểm soát thu nhập, tạo lệ thuộc vật chất/tinh thần → là bạo lực gia đình.
- Nếu thưởng là tài sản riêng: Một bên chiếm đoạt, dùng hết vào mục đích cá nhân nhằm chiếm đoạt → cũng là bạo lực gia đình.
Vi phạm bị xử phạt theo Nghị định 282/2025/NĐ-CP (hiệu lực từ 15/12/2025), tại Điều 44: Phạt từ 20-30 triệu đồng cho hành vi chiếm đoạt tài sản riêng hoặc tạo lệ thuộc tài chính. Tuy nhiên, áp dụng thực tế cần chứng minh ý định và hậu quả, thường ưu tiên hòa giải trước.
Trên đây là thông tin mà Mys Law cung cấp. Mọi thắc mắc liên quan đến nội dung bài viết xin vui lòng liên hệ 0969.361.319 hoặc email: [email protected] để được giải đáp.
Trân trọng!
Người biên tập: Nguyễn Thị Trà My