Nhà nước điều chỉnh quyết định giao đất, cho thuê đất và cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trong những trường hợp đặc biệt nhằm đảm bảo tính chính xác, phù hợp với quy hoạch và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất.
Theo Điều 44a Nghị định số 102/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 4 Điều 13 Nghị định 49/2026/NĐ-CP), việc điều chỉnh được thực hiện trong các trường hợp sau:
- Khi có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thay đổi căn cứ quyết định giao đất, cho thuê đất hoặc cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 116 Luật Đất đai 2024 (số 31/2024/QH15). Ví dụ: thay đổi quy hoạch sử dụng đất, điều chỉnh chính sách phát triển kinh tế – xã hội.
- Khi phát hiện sai sót về ranh giới, vị trí, diện tích hoặc mục đích sử dụng đất giữa bản đồ quy hoạch, bản đồ địa chính, quyết định giao đất, cho thuê đất, quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất và số liệu bàn giao thực địa.

Ngoài ra, một số trường hợp đặc thù cũng được điều chỉnh như sau:
- Trường hợp giao đất để thực hiện bồi thường bằng đất hoặc hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất (theo khoản 4 Điều 119 và điểm l khoản 3 Điều 124 Luật Đất đai 2024) thì thực hiện theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
- Trường hợp giao đất, cho thuê đất cho người sử dụng đất bị thu hồi đất sản xuất, kinh doanh phải di dời cơ sở sản xuất, kinh doanh (theo điểm m khoản 3 Điều 124, Điều 78 và Điều 79 Luật Đất đai 2024) được áp dụng đối với tất cả các loại đất còn thời hạn sử dụng tại thời điểm thu hồi, nếu người sử dụng đất có nhu cầu sử dụng đất tại vị trí khác để tiếp tục sản xuất, kinh doanh.
Việc xác định các trường hợp được miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất để thực hiện giao đất, cho thuê đất sẽ tuân theo quy định của pháp luật về tiền sử dụng đất và tiền thuê đất.
Như vậy, việc điều chỉnh chủ yếu nhằm khắc phục sai sót, cập nhật thay đổi căn cứ pháp lý hoặc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và ổn định sản xuất, kinh doanh cho người dân, doanh nghiệp.
Thẩm quyền của UBND cấp tỉnh trong lĩnh vực đất đai
UBND cấp tỉnh có vai trò quan trọng trong quản lý, sử dụng đất đai tại địa phương. Theo khoản 1 Điều 14 Nghị định 49/2026/NĐ-CP, UBND cấp tỉnh có thẩm quyền quyết định các nội dung sau:
- Thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
- Giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất.
- Điều chỉnh thời hạn sử dụng đất, gia hạn sử dụng đất, chuyển hình thức sử dụng đất.
- Công nhận quyền sử dụng đất.
- Chấp thuận việc thỏa thuận nhận quyền sử dụng đất để thực hiện dự án.
- Chấp thuận, phê duyệt phương án sử dụng đất.
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2025 (số 72/2025/QH15) và Nghị quyết số 190/2025/QH15 của Quốc hội về sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước, UBND cấp tỉnh có thể phân cấp, ủy quyền cho cơ quan, cá nhân có thẩm quyền thực hiện các nhiệm vụ trên cho phù hợp với tình hình thực tế địa phương.
Về thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất (theo khoản 2 Điều 14 Nghị định 49/2026/NĐ-CP):
- Cơ quan có chức năng quản lý đất đai cấp tỉnh cấp Giấy chứng nhận hoặc xác nhận thay đổi đối với các trường hợp do cấp tỉnh quyết định (giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, điều chỉnh thời hạn sử dụng đất, gia hạn sử dụng đất, chuyển hình thức sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất).
- Chủ tịch UBND cấp xã cấp Giấy chứng nhận hoặc xác nhận thay đổi đối với các trường hợp do cấp xã quyết định (bao gồm xác định lại diện tích đất ở).
- Văn phòng đăng ký đất đai cấp Giấy chứng nhận, xác nhận thay đổi, đăng ký đất đai lần đầu hoặc đăng ký biến động đối với các trường hợp còn lại.
Cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận cũng có quyền đính chính sai sót, thu hồi, hủy và cấp lại Giấy chứng nhận khi cần thiết.
Các trường hợp sửa đổi bảng giá đất từ ngày 31/01/2026
Theo khoản 2 Điều 6 Nghị định 49/2026/NĐ-CP, bảng giá đất được sửa đổi trong các trường hợp sau:
- Khi sửa đổi hệ số điều chỉnh mức biến động thị trường (theo Phụ lục kèm Nghị định) mà hệ số này vượt mức tối đa hoặc thấp hơn mức tối thiểu do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định.
- Khi có thay đổi địa giới đơn vị hành chính, tên khu vực, vị trí, tên đường, phố, đoạn đường trong bảng giá đất nhưng không làm thay đổi giá đất.
- Do yêu cầu quản lý nhà nước về đất đai và quản lý giá đất mà không thuộc hai trường hợp trên.
Thủ tục sửa đổi, bổ sung bảng giá đất
Theo Mục II Phụ lục ban hành kèm Nghị định 49/2026/NĐ-CP và Điều 7 Nghị quyết 254/2025/QH15, thủ tục sửa đổi, bổ sung bảng giá đất được thực hiện như sau:
- Cơ quan có chức năng quản lý đất đai cấp tỉnh áp dụng một số hoặc toàn bộ trình tự tại Điều 13 và Điều 14 Nghị định 71/2024/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 151/2025/NĐ-CP và Nghị định 226/2025/NĐ-CP), sau đó báo cáo UBND cấp tỉnh để trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định (trừ một số trường hợp đơn giản được quy định riêng).
- Đối với trường hợp sửa đổi hệ số điều chỉnh giá đất:
- Trong thời hạn không quá 15 ngày kể từ ngày quyết định sửa đổi hệ số, cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh báo cáo UBND cấp tỉnh xem xét, quyết định.
- UBND cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định sửa đổi bảng giá đất tương ứng.
- Đối với trường hợp thay đổi địa giới hành chính, tên đường, phố…:
- Các cơ quan, đơn vị liên quan gửi thông tin thay đổi đến cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh.
- Cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh tổng hợp, báo cáo UBND cấp tỉnh để trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định.
Trên đây là thông tin mà Mys Law cung cấp. Mọi thắc mắc liên quan đến nội dung bài viết xin vui lòng liên hệ 0969.361.319 hoặc email: [email protected] để được giải đáp.
Trân trọng!
Người biên tập: Nguyễn Thị Trà My